Skip to content

[T07] Di sản vắng mặt và ám ảnh thực tại

[Lời người dịch] Có một lần cách đây vài năm, tôi tình cờ đọc được một bài phỏng vấn trên trang World Photo với nhiếp ảnh gia người Bỉ Reginald Van de Velde về một dự án mang tên The Fascinating Architecture of Cooling Towers, dự án nhiếp ảnh ghi lại những hình ảnh bên trong các tháp giải nhiệt (cooling tower) đã ngưng hoạt động ở châu Âu. Bên cạnh sự ấn tượng mạnh mẽ về mặt thị giác đến từ các thiết kế kiến trúc và tỉ lệ chi tiết, không gian mang âm hưởng của những bộ phim khoa học viễn tưởng, tôi đã bị xúc động sâu sắc bởi một thứ cảm xúc mà mãi đến gần đây, tôi mới có thể lý giải được: Cảm giác sững lại khi bất chợt bị khóa chặt vào một khoảnh khắc ngưng đọng kì lạ, một nút pause trong chuyển đoạn giữa quá khứ và hiện tại. Trong khoảnh khắc đó, tôi nhận ra rằng thực tại tĩnh lặng trống trải của những không gian mênh mông siêu thực này thực chất được cấu thành bởi nhiều lớp quá khứ được lồng ghép vào nhau. Tương tự như cách mà Reginald đã miêu tả về cảm xúc của ông khi theo đuổi dự án này:  

“It is quite ironic, in a sense, to seek out freshness precisely in those places where there is none left” (Nó nghe có vẻ hơi nghịch lý khi cho rằng có thể tìm kiếm sự mới mẻ chính xác tại những nơi mà chẳng còn gì tồn tại).

Lanscapes Within là cách mà Reginald gọi tên dự án này, trong đó, “within” là một khái niệm mở rộng thường được sử dụng gần đây để miêu tả không gian bên trong thay vì “interior” (nội thất) nhằm loại bỏ sự phụ thuộc tuyệt đối một cách cứng nhắc vào lớp vỏ bao kiến trúc như cách tư duy truyền thống, kêu gọi tư duy lại về đối trọng cân bằng giữa kiến trúc-nội thất.

Khái niệm “thực tại bị ám ảnh bởi quá khứ” thực chất đã được phân tích và sử dụng trong các nghiên cứu về di sản gần đây, từ đó dẫn đến một khái niệm đầy thú vị “absent-present” heritage (di sản vắng mặt) mà tôi muốn giới thiệu trong bài dịch lần này. Bài dịch này là một chương nhỏ trong báo cáo khoa học mang tên “Absent- Present” Heritage: The Cultural Heritage of Dwelling on the Changjian ( (Yangtze) River”, viết bởi giáo sư Andrew Law and Xi Chen năm 2020. Bài báo cáo giới thiệu sơ lược về cơ sở lý luận hình thành nên khái niệm “absent-present” heritage. Từ đó ứng dụng vào phân tích dấu vết còn sót lại từ những sinh hoạt văn hóa cộng đồng đã từng tồn tại bên bờ sông Dương Tử và sự lưu giấu của những “bóng ma quá khứ” đó được lồng ghép vào thực tại ra sao.

Viết cho một ngày đầu năm mới

Năm 2021 của tôi là một năm ngập tràn trăn trở, là năm đánh dấu những bước chân chập chững đầu tiên của tôi vào thế giới nghiên cứu đầy mơ hồ và bất định. Dù có đạt được một số thành công ban đầu giúp mở ra cánh cửa đầu tiên cho phép tôi chính thức bước chân vào địa hạt mênh mông này, vị ngọt của những thành tựu nho nhỏ đó đã nhanh chóng bị cuốn phăng đi bởi cảm giác choáng ngợp và hoang mang. Sự hoang mang đó chiếm lĩnh hoàn toàn tâm trí tôi vào những ngày cuối năm, khiến cái cảm giác háo hức nức nở cho một năm mới sắp đến trở nên mờ nhạt hơn bao giờ hết.

Thế nhưng cách đây mấy ngày, tôi đã có một chuyến đi đáng nhớ đến miền Nam xứ Lào với hai cô bạn. Khi đang leo núi ở Phou Pha Marn, tôi tự hỏi điều gì đã khiến một đứa vốn sợ độ cao kinh niên như tôi lại thấy đầy phấn khích khi tự mình leo lên những đỉnh núi cao chót vót hay khi treo mình lơ lửng giữa độ cao ngàn mét mà không hề chùn bước? Cảm giác sợ hãi đó thực tế vẫn chưa hề mất đi nhưng nó đã nhanh chóng bị che lấp bởi sự khích thích tột độ khi nhận ra bản thân mình đang được đặt chân vào những vùng không gian to lớn vô định giữa đất trời, những miền xa xăm vượt xa khỏi tầm nhìn bình thường của một con người dưới mặt đất. Và cũng trong chuyến đi đó, mọi thứ trở bất chợt trở nên đáng sợ hơn khi chúng tôi phải đối diện với viễn cảnh leo núi trong đêm khi biết rằng việc trở về điểm dừng chân trước khi mặt trời lặn là điều không thể. Thế nhưng, sau đó tôi lại nhận ra rằng việc mò mẫm leo núi trong đêm thực chất không hề đáng sợ đến thế. Việc tập trung vào từng bước chân dựa vào một nguồn sáng duy nhất từ cái đèn pin trên đầu giúp chúng tôi quên mất cảm giác lo lắng về con đường xa xăm trước mắt. Đồng thời, cảm giác lao mình vun vút vào bóng đêm vô định khi đang zipline cũng đem lại cho tôi một sự thỏa mãn và cảm giác bình yên kì lạ. Một cách “tình cờ”, những chuyến phiên lưu này của tôi đã xảy ra cùng thời điểm tôi bắt đầu chuẩn bị cho hành trình khám phá thế giới nghiên cứu học thuật đầy hứa hẹn nhưng cũng rất cô đơn này.  

Chính mẩu kí ức đó khiến tôi lại nhớ đến những dòng mở đầu trong cuốn sách Jung’s Map of the Soul: An Introduction của Murray Stein- cuốn sách đầu tiên đem tôi đến trước ngưỡng cửa của thế giới nghiên cứu hàn lâm:

“Mùa hè mà Jung mất, tôi đang chuẩn bị để bước chân vào đại học. Đó là năm 1961, thời điểm mà loài người đang bắt đầu khám phá không gian bên ngoài vũ trụ (outer space) và cuộc chạy đua giữa người Mỹ và Nga để xem ai là người đầu tiên chạm đến được mặt trăng. Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn vào cuộc thám hiểm vĩ đại vào không gian bên ngoài. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, con người đã thành công trong việc rời bỏ terra firma (đất liền) và du hành đến những vì sao. Điều mà tôi đã không nhận ra tại thời điểm đó là thế kỉ của chúng ta cũng đã được đánh dấu một cách đầy quyết liệt bởi những cuộc du hành vào bên trong (the journeys inward), những khám phá vĩ đại về thế giới bên trong (inner world) được dẫn đầu bởi những người như Carl Jung  vào những thập kỉ trước cả Sputnik và Apollo. Những điều mà John Glenn và Neil Amstrong làm có ý nghĩa với chúng ta như những người khám phá không gian bên ngoài, thì với Jung đó lại chính là không gian bên trong, như một nhà thám hiểm can đảm và dũng cảm vào miền vô định (the unknown).
Jung ra đi một cách bình yên tại ngôi nhà của ông ở ngoại ô Zurich, trong một căn phòng hướng ra một hồ nước tĩnh lặng ở phía tây. Ở phía nam thì có thể nhìn ra dãy Alps. Vào một ngày trước khi mất, Jung đã nhờ con trai dìu ông đến bên cửa sổ để có thể nhìn thấy dãy núi này thân thuộc lần cuối. Ông đã dành cả đời để khám phá không gian bên trong và miêu tả lại những khám phá của mình trong những bài viết. Bằng một cách tình cờ, năm mà Neil Amstrong đặt chân lên bề mặt của mặt trăng, tôi đã bắt đầu hành trình tới Zurich, Switzerland để học tại Jung Institute. Những điều mà tôi chia sẻ trong cuốn sách này là những sàng lọc của gần 30 năm nghiên cứu về bản đồ tâm hồn của Jung.
Mục đích của cuốn sách này là để thuật lại những phát hiện của Jung khi ông trình bày chúng trong những nghiên cứu đã được xuất bản. Đầu tiên, việc phát hiện ra Jung tự bản thân nó đã giống như việc được kết nối vào một “Sea of Mystery” như Fuentes đã từng miêu tả trong cuốn sách của ông về những nhà thám hiểm đã du hành băng qua Atlantis từ Tây Ban Nha. Đó chính là cảm giác của sự háo hức nhưng cũng đồng thời là nỗi sợ khi một người đặt chân vào những miền xa xăm. Tôi vẫn nhớ những nỗ lực đầu tiên của mình. Tôi hoàn toàn bị cuốn trôi đi bởi quá nhiều háo hức với một viễn cảnh mà tôi đã, một cách đầy bất an, phải tìm kiếm lời khuyên từ rất nhiều giáo sư đại học của mình. Tôi đã tự hỏi liệu nó có “an toàn” không? Jung đã quá cuốn hút đến độ ông trông có vẻ như quá hoàn hảo để có thể là thực. Liệu tôi có bị lạc lối, mơ hồ hoặc sai hướng? May mắn thay, những người hướng dẫn này đã bật đèn xanh cho tôi và tôi đã bắt đầu hành trình khám phá và tìm kiếm kho báu từ đó.
Hành trình khám phá của bản thân Jung thậm chí còn đáng sợ hơn nhiều. Ông hoàn toàn không có khái niệm về việc liệu mình có thể tìm thấy kho báu hay sẽ rơi vào một thế giới vô định bên ngoài kia. Sự vô thức (the unconscious) thực sự là một Mare Ignotum (miền vô định) khi ông tự dấn thân vào nó. Nhưng khi ấy, Jung còn trẻ và đầy can đảm và ông đã quyết tâm tìm kiếm những khám phá mới. Do đó ông đã quyết định lao vào.
Jung thường tự liên hệ bản thân mình như một người tiên phong và một nhà khám phá những bí ẩn chưa được biết tới – tâm hồn con người (the human soul). Jung có vẻ như có một tinh thần thích mạo hiểm. Đối với ông, và cũng đối với chúng ta cho đến tận bây giờ, tâm trí con người (human psyche) là một địa hạt mênh mông, và vào thời kì của ông, nó vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Đó là một điều bí ẩn thách thức những kẻ mạo hiểm với sự hứa hẹn về một khám phá to lớn và đồng thời đe dọa những kẻ yếu bóng vía về nguy cơ bị mất trí. Đối với Jung, việc nghiên cứu về tâm hồn cũng đồng thời trở thành một phát hiện lịch sử mang tính quyết định, bởi vì, nhưng ông đã từng nói, cả thế giới đều treo trên một sợi chỉ mỏng và sợi chỉ đó chính là tâm trí con người. Đó là vấn đề sống còn để chúng ta phải hiểu biết hơn về nó.”

Tháp người Castell và sự trở mình của phim truyền hình Hàn Quốc

[Tôi không phải là một nhà phê bình phim, nhà xã hội học cũng không phải là một người hâm mộ điện ảnh bài bản. Do đó những gì tôi viết ra đây chỉ là kết quả quan sát mà đa phần là tự phát, cá nhân theo thời gian, chưa mang tính hệ thống. Bài viết này cũng không nhằm mục đích ca ngợi hay chỉ trích mà chỉ để chia sẻ suy nghĩ về các góc độ khác nhau của một vấn đề.]


Tôi chưa bao giờ là fan hâm mộ của phim truyền hình Hàn Quốc, nhưng cũng đã biết kha khá về phim truyền hình Hàn từ những năm 90 nhờ kí ức về những giờ luyện phim thâu đêm với mẹ. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh mẹ tôi sau giờ dạy, chạy vội về nhà bật tivi lên và rồi thỉnh thoảng bật khóc thút thít vì một cảnh nào đó trong bộ phim Khăn Tay Vàng. Hoặc có những buổi tối, tôi nằm cạnh mẹ trên giường, chập chờn trong giấc ngủ, còn mẹ tôi thì say sưa theo dõi bộ phim Người Mẫu trên màn hình tivi sáng choang trước mắt.

Tôi chưa từng đánh giá cao phim truyền hình Hàn Quốc, thậm chí còn có định kiến sâu sắc bởi kịch bản rập khuôn đơn điệu, cường điệu tâm lý nhân vật và tô hồng thực tế một cách thái quá. Thế nhưng càng lớn, định kiến đó càng dịu lại khi tôi dần nhận ra lý do trần trụi đằng sau những thước phim đẹp đẽ lãng mạn ấy: Xã hội Hàn Quốc là một xã hội đầy khắc nghiệt. Sự khắc nghiệt đó dường như là một phần truyền thống được sản sinh ra từ mặc cảm thua kém? Mặc cảm đó thúc đẩy họ nỗ lực vươn lên bằng mọi giá, chấp nhận hy sinh mỗi cá nhân để đổi lấy thành công lớn hơn của tập thể. Chi tiết này khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh cuộc thi xây dựng tháp người (castell) ở Catalonia, Spain.

Nguồn: Internet
Nguồn: Internet

Nhìn từ xa, hình ảnh sừng sững của một ngọn tháp mọc lên từ biển người đan quyện vào nhau sẽ dễ khiến bạn bị choáng ngợp. Thế nhưng khi nhìn kĩ vào chi tiết, bạn sẽ cảm nhận được sự ép khủng khiếp lên mỗi một con người góp phần tạo nên sự vĩ đại đó. Trong đó, sự thành công của ngọn tháp được đánh dấu khi một enxaneta (luôn luôn là một đứa trẻ nhỏ) leo lên đỉnh tháp và vẫy chào bằng một tay. Chi tiết này đã khiến rất nhiều người xem phản ứng vì lý do an toàn. Thế nhưng, trong đoạn video phỏng vấn những casteller, họ cho rằng việc chấp nhận các rủi ro của cá nhân để duy trì một hoạt động truyền thống mang giá trị tinh thần cho cả một cộng đồng là xứng đáng và cần thiết. Kí ức tập thể được xây dựng và truyền lại thông qua những hy sinh cá nhân và đó là thứ gắn kết, tạo nên sự kiêu hãnh và tự hào của một cộng đồng. Khi quan sát giá trị tinh thần lẫn các nguyên lý xây dựng cấu trúc của tháp, tôi cho rằng hình ảnh tháp người castell này là một ẩn dụ hoàn hảo lý giải cho sự trỗi dậy nhanh chóng của châu Á nói chung và sự phát triển thần kì của Hàn Quốc nói riêng. Đây là một ví dụ trực quan nhất cho triết lý: hy sinh đời bố, củng cố đời con của các nước phương Đông. Trên thực tế ở các quốc gia châu Á, sự hy sinh này không chỉ kết thúc bằng một vài cuộc chiến tranh đẫm máu mà còn kéo dài rất lâu sau đó qua rất nhiều thế hệ, cho đến tận ngày nay.

Do đó, khi nhìn vào những bộ phim truyền hình Hàn với dàn diễn viên đẹp rạng ngời bất chấp hoàn cảnh, những lý tưởng về tình yêu lãng mạn, sâu sắc thì tôi lại tự hỏi cái áp lực khủng khiếp nào đang đè nặng lên xã hội đó khiến họ phải tự huyễn hoặc mình vào một thứ niềm tin ảo dịu, như tìm kiếm một chỗ trú ẩn cho tâm hồn trong cuộc sống hằng ngày? Ban đầu, đây chỉ là những câu hỏi mơ hồ không có cơ sở. Thế nhưng câu hỏi ngày càng được củng cố khi tôi bắt đầu bước chân vào lĩnh vực điện ảnh của họ với những bộ phim của Kim Ki Duk, Park Chan Wook, Bong Joon Ho. Tôi đã bị sốc với những thước phim tàn bạo đẫm máu và đôi khi phi logic một cách khó chấp nhận. Bạo lực có mặt ở khắp mọi nơi. Sự ngột ngạt, bế tắc bao trùm lên hầu hết các bộ phim điện ảnh kinh điển của Hàn. Một sự tương phản khủng khiếp giữa điện ảnh và truyền hình.

Thế nhưng cái hố sâu to lớn đó đang dần được lấp đầy bởi những nỗ lực cải tiến rất rõ rệt đến từ mảng truyền hình. Trong vài năm trở năm, dù vẫn trung thành với chủ đề tình yêu nhưng bối cảnh phim truyền hình đã được mở rộng, câu chuyện đa chiều và thực tế hơn, thông điệp cũng đa dạng và gắn liền với cuộc sống hơn. Và đặc biệt trong năm nay, truyền hình Hàn “bất ngờ” gây được tiếng vang toàn cầu với 2 siêu phẩm Squid Game và Hellbound (ở góc độ cá nhân, My Name và Hellbound là hai bộ phim tôi đặc biệt ấn tượng). Đây là hai đứa con lai hoàn hảo giữa điện ảnh và truyền hình Hàn: vẫn gây sốc cho người xem bởi sự tàn nhẫn, đẫm máu, ngột ngạt nhưng cũng rất giỏi trong việc khai thác những khoảnh khắc đầy cảm xúc các nhân vật. Trong đó, khuyết điểm lớn nhất vẫn là luôn là tính logic và chiều sâu tư tưởng ở mỗi cá thể. Tuy nhiên tôi cho rằng, cả ưu và khuyết điểm này đều là những ẩn dụ hoàn hảo về xã hội tháp người ở Hàn Quốc.

Rõ ràng, sự thành công rực rỡ của Squid Game hay Hellbound không phải chỉ là những thành công mang tính cá biệt của phim truyền hình mà tôi tin rằng, đó là kết quả của những cuộc đấu tranh- xung đột xã hội không ngừng nghỉ qua nhiều thế hệ, là quả ngọt của chiến dịch quảng bá văn hóa Hàn được tính toán tỉ mỉ bắt đầu từ những năm 90 cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế từ trước đó. Tuy nhiên, đi kèm với những thành công rực rỡ trên thị trường quốc tế là những bê bối đạo đức gây chấn động cùng hàng loạt các vụ tử tử đau xót của những idol trẻ tuổi- sản phẩm công nghệ của nền văn hóa đại chúng. Trong đó, bản thân khái niệm “đại chúng” đã nói lên việc chú trọng vào sự phổ quát lên số đông hơn là chiều sâu chuyên biệt, hé lộ một phần nguyên lý nền tảng cho sự thành công thần kì này. Và cũng không quá ngạc nhiên khi BTS- một nhóm nhạc idol được đích thân tổng thống Hàn Quốc bổ nhiệm làm đặc phái viên ngoại giao, đại diện Hàn Quốc tham gia các sự kiện ngoại giao quốc tế. Sự kiện này một lần nữa khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa 3 khái niệm chính trị- văn hóa- xã hội trong sự trỗi dậy này.

Tôi tin rằng Hàn Quốc là một case study thú vị trong việc nhào nặn, điều chỉnh cả một xã hội sao cho vừa khít vào một số khuôn mẫu được thiết kế sẵn nhằm tối ưu hóa khả năng cạnh tranh trong thời gian ngắn nhất có thể. Khái niệm này có khiến bạn cảm thấy quen thuộc?

Nhìn chung, tôi cho rằng việc áp đặt những khung đạo đức cơ bản đúng sai lên quyết định của một cộng đồng, một quốc gia hay cả một dân tộc là dư thừa và không phù hợp, tương tự như trường hợp Trung Quốc và cách quản lý di sản của họ trong bài dịch vừa qua. Bởi vì sự phát triển, quy mô và tầm vóc của một cộng đồng, một quốc gia hay một dân tộc thường vượt xa khả năng đánh giá vốn dựa trên thời gian vật chất ngắn ngủi của một đời người.

How societies remember

Bất kể sự tách biệt khỏi kí ức xã hội, việc thực hành những kiến thiết/tái tạo lịch sử (historical reconstruction) có thể, theo những cách quan trọng, nhận một sự thúc đẩy mang tính định hướng từ, và cũng ngược lại, tạo ra những tác động quan trọng đến kí ức của những nhóm xã hội (social groups). Một trường hợp cực đoan điển hình của những tương tác này xảy ra khi một bộ máy chính quyền (a state apparatus) được sử dụng theo một cách có hệ thống để tước đoạt đi kí ức của người dân. Tất cả các chủ nghĩa chuyên chế (totalitarianism) đều cai trị theo cách này, sự nô lệ về mặt tinh thần (mental enslavement) của những đối tượng của một chế độ chuyên chế (totalitarian regime) bắt đầu khi kí ức của họ bị tước đoạt. Khi một quyền lực lớn mạnh muốn loại bỏ ý thức dân tộc (national consciousness) của một quốc gia nhỏ hơn, nó sử dụng phương pháp lãng quên có tổ chức (the method of organized forgetting)… sự đấu tranh của những công dân chống lại chính quyền của họ chính là sự đấu tranh giữa kí ức của họ và sự lãng quên mang tính cưỡng chế, và đối với những người biến nó thành mục đích ngay từ đầu thì (sự đấu tranh này) không chỉ để tự cứu chính mình mà còn là để tồn tại như một nhân chứng cho những thế hệ mai sau, trở thành những người ghi chép nghiêm khắc (relentless recorders)… (trang 14)

Một quan điểm về công việc mang tính trí tuệ này thu hút sự chú ý lên vị trí đặc quyền của những ngành khoa học lịch sử (historical sciences). Cách nhìn nhận sự việc này đến từ việc cô lập sự thực hành của những hiểu biết có phương pháp diễn ra trong cách ngành khoa học lịch sử khỏi một hiện tượng mang tính bao quát toàn bộ (all-embracing phenomenon), những quá trình của việc diễn giải này xảy ra một cách âm thầm và ở tất cả mọi nơi trong cuộc sống hằng ngày. Và điều này dẫn đến một khả năng là sự thực hành của khoa học lịch sử đang tạo ra một khoảng cách mới với quá khứ bằng cách cho phép con người được thoát ly khỏi truyền thống- thứ mà lẽ ra có thể hướng dẫn sự giả định và hành vi của họ. Một kí ức được giảng dạy bởi lịch sử (a historically tutored memory) thì đối nghịch với một kí ức truyền thống không mang tính phản chiếu (an unreflective traditional memory). Và do đó, một ý nghĩa khác của những kiến thức đến từ nhóm ngành này là nó không thể được suy nghĩ (unthinkable) vượt ra khỏi những sắp đặt của một bối cảnh rộng lớn hơn về một cuộc đấu tranh cho bản sắc chính trị. Đây chính là một phần của lịch sử về chủ nghĩa dân tộc. (trang 16)

(Connerton, 2003)

Hôm nay, khi một chị bạn người Úc trong nhóm tôi than thở về việc không thể chấp nhận hình ảnh nữ hoàng nước Anh và tầng lớp quý tộc Anh vào thế kỉ 19 lại được diễn bởi các diễn viên da màu trong series đình đám Bridgerton trên Netflix, tôi bất chợt nhớ đến cuốn sách The Heritage Turn in China- The Reinvention, Dissemination and Consumption of Heritage mà tôi đã giới thiệu gần đây. Trong cuốn sách này, trọng tâm nằm ở khái niệm “sanitized heritage” (di sản được thanh tẩy) và phương thức tiếp cận đầy quyết liệt trong các vấn đề về kí ức- di sản- bản sắc của chính quyền Trung Quốc, vốn đi ngược lại hoàn toàn các lý thuyết bảo tồn di sản được xây dựng từ trước bởi các quốc gia phương Tây (AHD- Authorised Discourse Heritage). Trong đó, việc bản sắc xã hội Trung Quốc được định hình thông qua hành động thanh tẩy, tái tạo hoặc xóa bỏ một phần kí ức có chọn lọc đã thu hút rất nhiều sự quan tâm và nghiên cứu của các học giả phương Tây trong những thập kỉ gần đây.

Và cũng thật ngẫu nhiên khi trong những năm gần đây, hiện tượng blackwashing trên các phương tiện văn hóa đại chúng ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là trong các tác phẩm văn học nghệ thuật kinh điển, vốn là kí ức tập thể của một số nhóm xã hội nhất định (ví dụ như các phim chuyển thể từ truyện cổ tích của hãng Walt Disney). Có nhiều ý kiến phân tích cho rằng đây là hành động phân biệt chủ tộc ngược- tương đồng với hiện tượng whitewashing vốn đã rất phổ biến trong văn hóa đại chúng phương Tây. Tuy nhiên tôi cho rằng, hai hiện tượng trên về bản chất là hoàn toàn đối lập: nếu như whitewashing được xem là hành động củng cố chủ nghĩa da trắng thượng tôn (white supremacy), vốn đã luôn là một phần quan trọng không thể chối cãi của lịch sử văn minh phương Tây thì ngược lại blackwashing dường như đang cố gắng thay đổi, xóa bỏ phần lịch sử này. Thực ra, trong lịch sử các nền văn minh nhân loại, việc chỉnh sửa, xóa bỏ có chọn lọc kí ức tập thể đã luôn là một bước chuẩn bị thiết yếu cho sự chuyển tiếp giữa hai chế độ chính trị khác nhau (Connerton, 2003; Bevan, 2006; Erll and Nünning, 2008). Nói cách khác, kí ức tập thể của một cộng đồng, một quốc gia thực chất là sự phản chiếu mang tính chủ quan của thực tế chính trị trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

Khi bắt đầu nghiên cứu về kí ức tập thể, kí ức văn hóa và môi trường xây dựng (built-environment), tôi nhận ra rằng nỗi lo sợ bị thay thế và thao túng bởi trí tuệ nhân tạo (AI) của con người thế kỉ 21 xuất phát từ thực tế: dù đã tiến rất xa trong việc khám phá vũ trụ, làm chủ thế giới tự nhiên nhưng con người đại chúng cho đến giờ vẫn còn mơ hồ về thế giới nội tại của chính bản thân mình (Stein, 2015). Sức mạnh thao túng tâm trí của trí tuệ nhân tạo thực chất đến từ khả năng ghi nhớ vô hạn các quyết định, lựa chọn từ nhỏ nhặt đến quan trọng mà chúng ta thực hiện hằng ngày. Nói cách khác, khả năng lưu trữ kí ức không giới hạn giúp AI tiến rất xa và rất nhanh trong việc giải mã bản đồ tâm trí con người, tạo tiền đề cho khả năng trực tiếp can thiệp vào quá trình hình thành kí ức của mỗi cá nhân và dần dần lan rộng ra cả cộng đồng. Kí ức là một trong những nhân tố quyết định trong việc cấu thành nên bản sắc của một cá nhân, tập thể (Assmann, 2006; Erll and Nünning, 2008). Việc thay đổi, chỉnh sửa các sự kiện lịch sử dù là trong các sản phẩm văn hóa đại chúng, mang đậm tính hư cấu, giải trí đều dẫn đến sự thay đổi to lớn trong kí ức tập thể của những thế hệ đi sau. Ngay tại thời điểm này, có lẽ chúng ta không cần chờ đến sự tiến bộ của AI hay những cuộc cách mạng đẫm máu thay đổi chế độ để nhận ra rằng lịch sử con người vẫn đang được viết lại bởi những thay đổi “nhỏ” trong cuộc sống hằng ngày.

Tài liệu tham khảo:

Assmann, J. (2006) ‘Invisible religion and Cultural memory’, in Religion and Cultural Memory:  Ten Studies, pp. 31–45.

Bevan, R. (2006) The destruction of memory : Architecture at war. London : Reaktion. doi: 10.1353/jmh.2007.0089.

Connerton, P. (2003) How societies remember. 10th edn. Cambridge: Cambridge University Press.

Erll, A. and Nünning, A. (2008) Cultural Memory Studies: An International  and Interdisciplinary Handbook. BerlinNew York : Walter de Gruyter.

Stein, M. (2015) Jung’s map of the soul. 17th editi. Chicago: Open Court.