Skip to content

[R09.1] Space Syntax và Bảo Tồn Đô Thị

Hành trình đến UCL và Space Syntax

Tôi bắt đầu nhen nhóm ý định chuyển hướng từ industry sang nghiên cứu vào khoảng cuối năm 2019- 2020, khi đang làm trưởng nhóm thiết kế nội thất cho một văn phòng kiến trúc của Pháp tại Vientiane. Về bản chất, đó là một quyết định không dễ vì trong ngành thiết kế, con đường từ industry sang academia gần như là đường một chiều, một khi đã bước chân vào thì khó quay lại. Thế nhưng, một cách kì lạ, tôi đưa ra quyết định cuối cùng này khá nhanh chóng. Có lẽ, sau khi đã đạt được tất cả những mục tiêu vật chất mà bản thân từng mơ ước, sự trống trải trong cảm xúc khi trở về nhà sau mỗi ngày làm việc lớn đến mức, sau nhiều năm đi làm, tôi hiểu rằng không thể không lựa chọn sự thay đổi. Khi đối diện với những khoảng tối mơ hồ đó, kí ức về khoảng thời gian học Thạc sĩ ở Scotland là điểm sáng duy nhất mà tâm trí tôi có thể neo giữ lấy: kí ức về sự háo hức tột độ khi lần đầu tiên, bản thân có thể cảm nhận được độ sâu thăm thẳm và mênh mông của bể kiến thức. Kí ức về những đêm ngồi miệt mài đọc hàng trăm trang tài liệu trên thư viện của trường đại học Edinburgh (Scotland) đến hơn nửa đêm vào những ngày hè sôi động nhất, hay những đêm tối muộn thẩn thơ lang thang về nhà lúc 2 giờ sáng sau một ngày dài quay cuồng giữa giữa sách vở và công việc thông dịch, vẫn luôn rực rỡ một cách kì lạ.

This image has an empty alt attribute; its file name is DSC_4326-01-1024x576.jpeg
“Đôi lúc cảm thấy thật bất lực mỗi khi muốn lưu giữ kí ức bằng những con chữ. Một năm ở Scotland giống như một giấc mơ bất ngờ nhưng rực rỡ đầy màu sắc, có lúc điên rồ, vật vã, có lúc lại mơ màng bình yên đến lạ kì. Vào những ngày cuối cùng trước khi bắt đầu một hành trình mới, lúc nào cũng nghĩ đến căn phòng nhỏ ấm áp của mình ở Galashiels, đến cái sự tĩnh lặng kì lạ mà nơi này đem lại cho mình. Vậy có lẽ là quá đủ cho một năm xa xứ nhỉ?” (Scotland, ngày 24 tháng 9 năm 2018)

Gần đây, khi trao đổi với một bạn sinh viên mới ra trường về lý do từ bỏ industry để đi theo con đường nghiên cứu, tôi trả lời rằng nếu xem kiến thức đến từ các nghiên cứu khoa học là một mạch nước ngầm thì những kiến thức được ứng dụng trong industry ở hiện tại là nguồn nước bên trong những giếng nước được khoan trực tiếp từ mạnh nước ngầm ấy. Tuy nhiên số lượng và vị trí của mỗi giếng nước đều được sàng lọc qua phễu lọc của lợi nhuận kinh tế  và hiện thực xã hội ngay tại một thời điểm nhất định. Những kiến thức mà phần lớn chúng ta học và hiểu được chính là một lượng nhỏ nước lấy lên từ những giếng nước đó. Do đó, một cách rất tự nhiên, phần lớn chúng ta không cảm nhận được giá trị về sự tồn tại của “mạch nước ngầm” khoa học vì khoảng cách giữa industry và academia là rất lớn, thông thường có thể là 30 hoặc 50 năm và hơn.

Thế nhưng, cái giá phải trả để trở thành một phần kiến tạo nên “mạch nước ngầm” khoa học đó là không nhỏ. Sau hơn một năm ở UCL, tôi tin rằng cảm giác phấn khích tột độ xen lẫn nỗi bất an vô hình và sự chông chênh với biên độ dao động lớn khi bản thân luôn trong trạng thái vận động và tư duy không ngừng để không bị nuốt chửng bởi sự vô tận của kiến thức là một sự tra tấn thần kinh với số đông mọi người.

Tôi vẫn nhớ tháng đầu tiên ở UCL, cô bạn nghiên cứu sinh năm cuối đang trong giai đoạn viết luận án chia sẻ với tôi rằng cô ấy đã bị mental breakdown khá nặng nề vào khoảng đầu năm thứ hai do áp lực của kì sát hạch Upgrade. Và rằng nếu chẳng may tôi có rơi vào tình cảnh ấy thì cũng đừng nên hoảng loạn vì tất cả mọi người đều đã trải qua và sống sót lành lặn sau “sự cố” đó. Hiển nhiên, tỉ lệ sinh viên bỏ cuộc giữa chừng là không nhỏ nhưng ít ra trong lab tôi, con số đó vẫn chưa đến mức báo động. “Lời sấm truyền” khi ấy đã trở thành sự thật khi vào khoảng cuối năm 2023, tôi bắt đầu nhận ra bản thân có dấu hiệu bị kiệt sức về mặt tinh thần và cả thể chất. Sự kiệt sức đó là kết quả của việc không ngừng gia tăng áp lực lên bản thân một cách vô thức sau mỗi deadline và khuynh hướng tăng dần đều áp lực này sẽ kéo dài ít nhất cho đến ngày bạn chính thức bảo vệ luận án tiến sĩ. Lần đầu tiên trong đời, tôi ốm vật vã hơn một tuần lễ ngay trước Giáng Sinh và thấm thía lời chia sẻ của cô bạn một năm trước. Thế nhưng, mỗi khi đám nghiên cứu sinh chúng tôi ngồi lại với nhau, tất cả đều đồng ý rằng có lẽ động lực lớn nhất giúp chúng tôi thức dậy mỗi sáng và lao vào công việc chính là sự thỏa mãn về trí tuệ kèm theo một chút bất an mơ hồ về kết quả của ngày hôm ấy hơn là cảm giác ổn định yên bình mà một công việc 9-to-5 có thể đem lại.

Quay lại thời điểm cuối năm 2019- đầu năm 2020, sau khi đã ra quyết định về việc chuyển hướng sự nghiệp, tôi bắt tay vào việc tìm kiếm giáo sư hướng dẫn. Do không có định hướng cụ thể sớm từ những bậc đại học/thạc sĩ, nên dù đã có chút khái niệm tương đối cụ thể về định hướng nghiên cứu, quá trình tìm kiếm này đã ngốn của tôi hơn 8 tháng với kết quả đạt được là một danh sách ngắn củn chỉ với 3 lựa chọn. Thế nhưng chính trong quá trình này, tôi đã biết đến lý thuyết nghiên cứu và phương pháp phân tích đô thị Space Syntax của Space Syntax Laboratory tại UCL. Tại thời điểm khởi đầu, UCL được đặt ở vị trí thứ 3 trong shortlist vì đây là lựa chọn mạo hiểm và nhiều rủi ro nhất. Sự mạo hiểm không chỉ đơn giản vì ranking cao ngất của trường mà phần lớn đến từ việc tôi hoàn toàn chưa hề được đào tạo về đô thị học cũng như không có bất kì kiến thức nào về các phương pháp nghiên cứu trong phân tích đô thị và đặc biệt là Space Syntax (SSX). Trong khi đó, University of Edinburgh và Newcastle University ở hai vị trí lần lượt là 1 và 2 vì ở đó, phạm vi nghiên cứu được lựa chọn vẫn nằm trong vùng kiến thức an toàn mà tôi ít nhiều có kiểm soát tốt. Thế nhưng, khi phải đối diện với quyết định cuối cùng, tôi đã lựa chọn đi theo một con đường hoàn toàn xa lạ và nhiều rủi ro nhất…

Có thể nói, động lực lớn nhất khiến tôi lựa chọn UCL là vì lý thuyết và phương pháp nghiên cứu SSX. Tuy nhiên, vào thời điểm viết bức email đầu tiên cho giáo sư hướng dẫn, hiểu biết của tôi về SSX và Spatial Cultures- một nhánh ứng dụng của SSX vào nghiên cứu góc độ văn hóa của môi trường xây dựng, là rất mơ hồ. Khởi nguồn cho những câu hỏi đầu tiên của tôi về không gian xây dựng (built-environment) chính là sự tò mò về không gian “ý niệm”, về cách kí ức văn hóa (collective memory) được sản sinh từ những không gian sinh hoạt hằng ngày cũng như cách chúng được lưu trữ và phát triển. Sau nhiều năm và nhiều thế hệ, phải chăng chính những kí ức đó khi được tích lũy đủ dày và đủ sâu đã quay ngược lại chi phối và tái định hình hình thái (spatial morphology) của chính những không gian sinh hoạt đó? Thách thức lớn nhất đặt ra là làm sao có thể nắm bắt, tái hiện những mối quan hệ chồng chéo giữa không gian sinh hoạt hằng ngày và các kí ức văn hóa đó theo một cách cụ thể và “vật chất” nhất. Bởi vì cách diễn đạt truyền thống sử dụng ngôn ngữ dường như chỉ khiến những mối quan hệ này trở nên mơ hồ và xa rời cuộc sống sinh hoạt hằng ngày nơi nó được sinh ra. Khi nhìn vào những bản đồ phân tích street network của SSX với hệ thống những con đường tượng trưng cho những chuyển động sinh học tự nhiên (natural movement) của một xã hội sống được mã hóa thành những đường thẳng thể hiện qua hệ thống màu sắc “sinh học”, tôi mơ hồ nhận ra đây có lẽ là lời giải mà mình tìm kiếm bấy lâu nay.

Một ví dụ về bản đồ phân tích street network của SSX sử dụng hệ thống màu sắc sinh học thể hiện giá trị kết nối của những con đường trong 1 thành phố.

(Còn tiếp)

Interiority và Urban Interior

Fractal dimension và tính chất tương đối về giới hạn và tỉ lệ không gian

“Additionally, I wanted to share some reflections I had after your recent lecture on the ‘multi-scaling of everyday life’ and ‘everydayness’. I came across a paper that explored a trans-scalar study of Chinese Hutongs (alleyways in China) and American alleyways. The authors introduced the concept of ‘urban interiority’ to describe alleyways as an intertwined territory between interior space and urbanism. While this term is not commonly used in space syntax theories, I believe it aligns closely with the notion of multi-scaling or fractal space in urbanism that you discussed. Moreover, analyzing things from this interiority perspective will also result in the micro-sociological approach (that you mentioned at the end of the lecture) as individual experience and everyday social life are what distinguishes the interior from architecture and ‘traditional urbanism’. Personally, I find the concept of ‘urban interiority’ intriguing because it sheds light on why and how an interior designer, like myself, can develop an interest in urbanism.”

Đây là một đoạn trong email tôi gửi thầy hướng dẫn vào tháng 2 năm 2023, năm tháng sau khi bắt đầu chương trình PhD. Nội dung của trích đoạn này đề cập đến một trong những câu hỏi không ngừng ám ảnh tôi từ những ngày đầu tiên: Vì sao một người học và thực hành interior designer như tôi lại chọn hứơng nghiên cứu về không gian đô thị và kí ức tập thể?  Đây cũng là câu hỏi tôi luôn nhận được trong vòng phỏng vấn PhD của các trường đại học. Thế nhưng tại thời điểm đó, tôi chỉ có thể đưa ra một câu trả lời theo hướng giả thuyết và đại khái: do góc độ tiếp cận không gian theo tỉ lệ khác nhau dựa trên mối liên hệ giữa con người và không gian đô thị.

Email này được tôi gửi đi với đầy sự háo hứng và phấn khích sau khi tham gia vào một bài giảng của môn Spatial Cultures do thầy hướng dẫn tôi chủ trì. Đó là bài giảng về tính tương đối của không gian và tỉ lệ tương đối này được quyết định dựa trên mối tương quan không gian-thời gian (space-time) và con người:

our scale determines our location, or place in the space-time of the universe… our rhythms insert us into a vast and infinitely complex world

Henri Lefebvre, Rhythmanalysis (2004)

Theo bài nghiên cứu The Fractal Nature of the Everyday Environment của Andrew Crompton được trích dẫn trong bài giảng hôm đó, không gian (space) không phải là một hình thức trung tính (neutral medium) mà là một khái niệm mang tính xã hội (social construction) được xây dựng dựa trên sự tương tác với con người. Tính tương đối này được miêu tả bằng khái niệm fractal dimension (Crompton, 2001). Fractal chỉ một dạng cấu trúc được cấu thành bởi các thành phần có hình dạng tương đồng nhưng đa dạng về kích thước:   

“If an urban environment is fractal then its size will be a slippery concept and the measurement of its size will depend strongly upon how the space is used”

(Crompton, 2005)
Hình 01. Thí nghiệm về cách sử dụng không gian cho mục đích đọc của hai nhóm đối tượng người lớn và trẻ em

Hình 01 là một trong những thí nghiệm mà Crompton đã tiến hành tại The University of Manchester, UK. Thí nghiệm chỉ ra cách sử dụng không gian nội thất của hai nhóm đối tượng (trẻ em và người lớn) trong hoạt động đọc sách. Có thể dễ dàng thấy rằng, diện tích sử dụng của không gian được nới rộng với nhóm đối tượng trẻ em. Nói cách khác, khái niệm về giới hạn không gian có thể giãn nở thông qua cách mà trẻ em khám phá các ngóc ngách mà người lớn hiếm khi đụng tới (Crompton, 2001). Lý giải cho việc này là do tư duy của trẻ em về việc sử dụng không gian thường chưa bị giới hạn bởi những định kiến có sẵn. Tính tương đối fractal của không gian mà Crompton đề cập bên trên cũng liên hệ trực tiếp đến tính “trơn trợt” (slippery concept) của hai khái niệm “exterior” và “interior” trong không gian đô thị (urban environment). Bản thân cách sử dụng từ “slippery” đã nhấn mạnh tính chất linh hoạt dịch chuyển dễ dàng của các khái niệm không gian trên. Một minh họa cụ thể hơn có thể được tìm thấy qua mô hình figure-ground plan được Colin Rower và Fred Koetter giới thiệu trong cuốn Collage City (1978) như một công cụ giúp phân tích hình thái (morphology) của không gian đô thị trong những giai đoạn 1980-90 (Hebbert, 2005). Trong bản vẽ tinh giản này, không gian xây dựng- đen (built space) và không gian trống- trắng (unbuilt space) được thể hiện rất rõ qua sự tương phản trắng đen. Ở đó, unbuilt space hay “void” còn thể đọc như interior của một urban environment (Attiwill, 2011). Hình ảnh này là câu trả lời hoàn hảo, lý giải về vị trí của interior trong một urban environment cụ thể: Nếu xem urban environment là căn phòng trong thí nghiệm của Crompton, những hình khối chiếm chỗ và đồ dùng nội thất (furniture) là solid- built space thì khoảng trống còn lại (void) chính là interior.

Việc biết đến lý thuyết fractal dimension và nhận ra mối quan hệ giữa built space- unbuilt space với exterior-interior đã khiến tôi cực kì phấn khích vì những lý thuyết này giúp chứng minh giả thuyết (assumption) về interiority perspective trong urban environment của tôi là hoàn toàn có cơ sở. Đồng thời, sự kiện này cũng dẫn tôi đến việc khám phá ra hai khái niệm mở rộng quan trọng khác: interiorityurban interior.

Là “học” hay “làm” Tiến sĩ?

Vậy là đã hơn 6 tháng trôi qua kể từ khi tôi bắt đầu chương trình nghiên cứu Tiến sĩ (PhD) ở UCL. Trong 2 học kì đầu tiên này, ngoài việc tìm hiểu sâu hơn về tính khả thi và phương pháp nghiên cứu cho đề xuất nghiên cứu (research proposal) của mình, tôi còn phải dành kha khá thời gian để dự khán (audit) một loạt các môn học của chương trình MSc Space Syntax: Architecture and City. Thời gian đầu, tôi tham dự các lớp học kéo dài không dưới 3 tiếng này một cách khá miễn cưỡng. Sức ì của khoảng thời gian 4 năm đi làm khiến việc cặm cụi ngồi học như một sinh viên trên giảng đường không còn sức hút quá lớn với tôi nữa. Nhắc đến đây có lẽ nhiều người sẽ thắc mắc: thế PhD không phải là cũng là đi học sao? Câu trả lời là có và không, tùy vào hệ thống giáo dục đào tạo của mỗi nước, nhưng sự khác biệt giữa PhD và các bậc học bên dưới (undergrad- cử nhân, postgrad-thạc sĩ) là rất lớn.

Cậu bạn nghiên cứu sinh mới chuyển từ New York City (NYC) sang cùng đợt với tôi chia sẻ lý do cậu ấy chạy từ Mỹ sang UK làm PhD là vì ở Mỹ, 2 năm đầu bạn sẽ phải tham gia vào các coursework (khóa học đào tạo- như một dạng đi học), 3 năm cuối thì mới thực sự tập trung hoàn toàn vào nghiên cứu. Ở UK thì khác, ngay từ khi bắt đầu chương trình MPhil/ PhD thì bạn đã chính thức “làm” chứ không còn “học” nữa. Việc audit các môn học khác thường tùy thuộc vào yêu cầu riêng của thầy hướng dẫn (supervisor), căn cứ vào kiến thức nền tảng (background) và research proposal của bạn. Quan trọng nhất là thời gian để audit các môn học này (thường ngốn của bạn 2- 3 buổi/ tuần) không được cộng thêm vào thời gian nghiên cứu chính thức của bạn. Trong trường hợp của tôi, vì có background (thiết kế nội thất- interior design) hoàn toàn không liên quan đến phương pháp nghiên cứu và lý thuyết phân tích mà tôi đề xuất (nghiên cứu về đô thị- space syntax) nên tôi bắt buộc phải dành khoảng 50% thời gian trong 6 tháng đầu để học “cấp tốc” một “chuyên ngành” mới. Việc này cũng giải thích vì sao ở bậc PhD, việc nghiên cứu trái ngành/ đa ngành/ liên ngành không phải là hiếm và thậm chí rất được khuyến khích. Nhưng như đã đề cập ở trên, thay vì được dành trọn 2 năm đầu để cập nhật kiến thức mới, ở UK, bạn phải làm hai việc song song cùng lúc mà vẫn phải đảm bảo sau 12-18 tháng, bạn có thể thuyết phục thành công hội đồng về tính khả thi của đề tài nghiên cứu của bạn. Kì bảo vệ này ở UCL được gọi là Upgrade. Nếu thất bại, bạn sẽ phải rời chương trình với tấm bằng “an ủi” MPhil (Master of Philosophy). Nếu thành công, bạn có thể chính thức bắt tay vào thu thập dữ liệu và tiến hành nghiên cứu. Kết luận lại, sự khác biệt giữa PhD ở US và UK có thể hiểu một cách khái quát thông qua câu nhận xét của cậu bạn NYC kia: “Tao chẳng muốn phí 5-6 năm nên thôi thà chịu cực hơn nhưng chốt được hàng lẹ!” [1]


[1] Nhận xét của cậu bạn tôi hoàn toàn ko đề cập tới chất lượng của chương trình đào tạo PhD ở hai nước mà chỉ hàm ý nói về sự khác biệt trong thời gian đào tạo giữa hai hệ thống.

How Modernity Forgets

Vậy là sau rất nhiều trục trặc và trì hoãn diễn ra trong suốt một năm vừa qua, tôi đã chính thức chuyển đến London vào giữa tháng 10, chỉ 2 tuần trước sinh nhật lần thứ 32, để bắt đầu chương trình nghiên cứu Tiến sĩ tại The Bartlett School of Architecture (BSA), University College London (UCL), trường top 3 thế giới về nghiên cứu kiến trúc- đô thị.

Mọi thứ chuyển đổi diễn ra với một cường độ gấp gáp và dồn dập đến nỗi trong vài tuần đầu tiên, tôi thậm chí không có thời gian để hoài niệm về cuộc sống tôi đã bỏ sau lưng chỉ vài tuần trước đó: 5 ngày trước khi bay, dự án của tôi ở công ty hiện tại gặp trục trặc kĩ thuật khiến tôi phải tăng ca đến tối muộn vào những ngày làm việc cuối cùng ở văn phòng. Buổi tiệc chia tay cho gần 20 bạn bè thân thuộc được tổ chức gấp gáp 2 ngày trước khi bay và những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng diễn ra liên tục từ 1 tháng trước cho đến ngày cuối cùng khi tôi chính thức nói từ biệt với xứ sở nhiệt đới ấm áp để đặt chân đến đến trời Âu lạnh giá.

Vượt quá cả kì vọng, London chào đón tôi nồng nhiệt với một thứ thời tiết không thể khó chịu hơn: ẩm ướt và lạnh buốt vì những cơn gió có thể bẻ cong dễ dàng những cái dù rẻ tiền mua vội và thi thoảng hù dọa thổi văng những đứa thấp bé nhẹ cân như tôi. Còn UCL thì thể hiện sự niềm nở và nhiệt tình với tôi bằng một núi thông tin và kiến thức chất đống từ hơn 1 tháng trước chờ được hấp thụ và giải quyết. Nhưng trên tất cả, cuộc gặp đầu tiên kéo dài 3 tiếng giữa tôi và giáo sư hướng dẫn, Sam đã diễn ra một cách hào hứng và đầy cảm hứng đến nỗi sau đó những cuộc gặp đều đặn với thầy trở thành một sự háo hức xen lẫn cả căng thẳng, giúp sưởi ấm tâm trạng băng giá của tôi trong những tuần tiếp theo.

Nếu như tôi của năm 2017, khi lần đầu tiên đặt chân đến nước Anh xa xôi đã cảm thấy hào hứng và tràn trề sức sống như thể được tái sinh thì tôi của năm 2022 khi quay lại Anh quốc lại đang cảm thấy như thể, một cách hết sức kì lạ, đã đánh mất một phần nào đó của bản thân. Cái cảm giác mất mát mơ hồ này bao trùm và ám ảnh tâm trí tôi suốt gần 3 tháng đầu tiên ở London, phủ bóng lên phần lớn sự hồ hởi phấn khích về cuộc sống nghiên cứu sinh trước mắt. Mãi cho đến tuần thứ 2 của tháng 12, sau khi được thầy hướng dẫn giới thiệu cuốn How Modernity Forgets (HMF), tôi bất chợt tìm ra lời giải cho sự ám ảnh này.